Chép tranh- nghệ thuật “nhân bản”


Bắt đầu từ những bài tập dành cho sinh viên hội hoạ, theo thời gian nó đã trở thành một nghề thực sự kiếm ra tiền và nhờ đó thu hút nhiều người tham gia chép tranh, kinh doanh. Vào thời điểm những tháng cuối năm, nhu cầu trang trí nhà cửa cho đẹp để đón Tết, nghề này càng hái ra tiền. Chép tranh vừa là một nghề có hơi hướng cao sang của nghệ thuật, vừa như một thú chơi vương giả.

Lược sử của nghề

Khởi thuỷ của nghề này bắt nguồn từ việc những người theo học hội hoạ sao chép lại những tác phẩm hội hoạ kinh điển hoặc danh tiếng của những hoạ sư, để học hỏi. Theo thời gian, một số người có điều kiện kinh tế và có hiểu biết, đam mê hội hoạ, nảy sinh nhu cầu tìm mua những tác phẩm hội hoạ danh tiếng hoặc những tác phẩm đẹp nhưng không thể mua lại nguyên bản, thì họ đặt chép lại chúng.

Ơ nước ta, không ai biết rõ nghề này ra đời từ khi nào và ai là người đầu tiên “khai sinh” ra nghề. Cũng không ai biết rõ nghề này có xuất xứ từ nước nào. Theo những nghệ nhân lâu năm trong nghề thì chép tranh ở nước ta được du nhập từ Pháp, khi người Pháp lập ra trường Mỹ thuật Đông Dương ở Hà Nội. Hồi đó, chép tranh cũng chỉ phổ biến trong giới sinh viên mỹ thuật của trường nhằm phục vụ cho nhu cầu học tập là chính. Về sau mới phát triển trở thành một nghề thực sự vào những thập niên của những năm 1960 – 1970. Sau đó là thời kỳ suy tàn của nghề này.
Những năm gần đây, theo đà khởi sắc của nền kinh tế, nghề chép tranh sau những ngày tháng suy tàn đã tìm được chỗ đứng của mình và ngày một hưng thịnh, phát đạt. Nghề chép tranh hiện đang giúp cho một số người kiếm ra tiền, trong số đó có những thợ chép tranh.
Để trở thành thợ chép tranh phải trải qua một thời gian học nghề. Thợ chép tranh đa phần là những người có chút năng khiếu vẽ, được truyền nghề từ những tiệm chép tranh ít thời gian rồi hành nghề. Ngoài ra là đội ngũ sinh viên mỹ thuật, kiến trúc làm nghề chép tranh để kiếm thêm thu nhập. Hoặc có một số hoạ sỹ chưa có tên tuổi cũng hành nghề này. Nhưng số này không có nhiều. Chủ yếu họ làm chủ tiệm, kinh doanh tranh chép là chính để nuôi sáng tác, gầy dựng sự nghiệp. Cũng có những nghệ nhân làm lâu năm thì vừa làm chủ vừa chép tranh và nhận học trò.

Chép tranh cũng đòi hỏi sự sáng tạo của những người nghệ sĩ

Chuyện nghề

Ở nước ta hiện nay, do ảnh hưởng của lịch sử, đã hình thành nên ba trung tâm chép tranh: Hà Nội- Huế – Thành phố Hồ Chí Minh. Trong ba trung tâm đó, mạnh nhất, phát triển nhất phải kể đến thành phố Hồ Chí Minh, nhờ sự sôi động của môi trường sống nơi đây. Sau đó thì đến Hà Nội và Huế. Ơ thành phố Hồ Chí Minh, khách hàng mua tranh chép chủ yếu là người nước ngoài. Do đó, thị hiếu của họ rất đa dạng về chủng loại, phong cách tranh. Theo anh Nguyễn Đức Hoà, một hoạ sỹ kiêm chủ tiệm tranh Trừu Tượng nằm trên đường Nam kỳ khởi nghĩa (Tp. HCM), thì khách mua tranh chép ở thành phố này ưa chuộng nhất dòng tranh của hoạ phái Ấn tượng. Sau đó là phái Cổ điển, hội hoạ thời kỳ Phục hưng, hậu Phục hưng… Anh Hoà lý giải: “Những gam màu tươi tắn đầy sức sống của hoạ phái An tượng của những danh hoạ Renoir, Gudot…mang một phong cách dễ hiểu, dễ cảm nên nhiều người thích. Hơn nữa, đây cũng là một hoạ phái lớn vốn quen thuộc với dân Châu Au từ rất lâu. Và nó cũng dễ chép nữa. Tranh dòng cổ điển, Phục hưng, hậu Phục hưng cũng tương tự. Còn dòng tranh Siêu thực, Lập thể thì khó hiểu hơn, cũng khó chép, nên ít người mua.”

Còn tại hai thành phố Hà Nội và Huế, khách chủ yếu là Việt kiều và khách nội nên thị hiếu của họ là tranh phong cảnh đồng quê, rừng núi, hoa lá… Ngoài ra, cũng có một số người chọn mua tranh phong cách cổ điển, ấn tượng… nhưng số đó không nhiều.

Để chép một bức tranh cũng không đơn giản. Nghệ thuật, dù là sự sao chép, cũng có những yêu cầu khắt khe và những nguyên tắc hàn lâm của nó. Và đã là nghệ thuật đều mang tính ngẫu hứng, sáng tạo. Chép tranh, nếu là người có cá tính, tay nghề,.. đều ít nhiều để lại những dấu ấn cá tính, phong cách của mình. Việc chép tranh thường trải qua những “công đoạn” sau: dựng hình khối, lót nền (màu) theo nguyên mẫu để vẽ sau đó là vẽ (chép) lại. Phải tuỳ theo gam màu của tranh nguyên mẫu mà lên. Tranh chép muốn đẹp cần thợ có kỹ năng tốt, thành thục và có kinh nghiệm. Đồng thời phải có cảm hứng nữa. Không có cảm hứng, nếu chỉ có kỹ thuật chép, tranh sẽ “khô”, không có hồn.

Cái khó của tranh chép chính là sự bắt chước lại màu sắc, phong cách và cá tính sáng tạo của tác giả ở nguyên bản. Do đó, cần pha màu hài hoà giữa nền và khung, nét vẽ phải nhỏ, tỉ mỉ, xốp (sống động), có hồn. Để bức tranh chép có hồn thì ngoài yêu tố kỹ thuật ra, còn cần có sự nghiên cứu nguyên bản trước khi chép. Có những bức tranh phức tạp phải nghiên cứu mất nhiều thời gian, có khi cả tháng trời mới xong một bức. Còn với những bức bình thường, mất khoảng tuần lễ thì xong. Tuy nhiên, dù thế nào tranh chép cũng không thể nào diễn tả lại được 100% theo như nguyên mẫu. Chỉ mong diễn lại được 70% nguyên mẫu là đạt.


Người chép cũng phải có cá tính, sự tỉ mẩn..

Một thị trường “nhân bản”

Theo lời anh Hoà, tất cả các loại tranh, trình độ và tay nghề của thợ Việt Nam đều chép được hết. Khó cỡ nào cũng chép được, nhưng tuỳ theo yêu cầu và giá tiền mà khách đưa ra. Nếu đó là giá hấp dẫn thì sẵn sàng. Về giá của tranh chép thì rất đa dạng, vô chừng vì phụ thuộc vào yêu cầu của khách và phong cách của dòng tranh. Giá phổ biến nhất của tranh chép thường từ 200 – 300.000 đồng với loại đơn giản, kích thước nhỏ, cho đến 1000.000, hoặc hơn…

Hiện nay, giới chép tranh thường dùng các loại sơn Đài Loan, Trung Quốc để vẽ. Sơn Trung Quốc rẻ hơn sơn Đài Loan nhưng chất lượng kém, không bền, hay bạc, dễ bung nền. Dùng sơn Đài Loan, nếu tranh bị dơ có thể chùi được, theo phương pháp riêng, còn sơn Trung Quốc thì không chùi được. Nhưng chỉ có giới chuyên môn mới phân biệt được đâu là sơn Trung Quốc, đâu là sơn Đài Loan, còn người mua thì chịu. Vải dùng để chép tranh thường là vải Đài Loan hoặc vải Việt Nam.

Trên thế giới, ngoài Việt Nam nghề chép tranh còn tồn tại ở một số nước. Chủ yếu tập trung ở Đông Nam Á, như Thái Lan, Philippine… nhưng theo lời của giới hành nghề chép và mua bán tranh chép, thì giá cả tranh chép ở Việt Nam rẻ hơn so với nơi khác. Và người Việt Nam có tay nghề cao hơn. Đó cũng là lợi thế cạnh tranh nhờ yếu tố thu hút khách.

Sau khoảng 10 năm, bức tranh chép sẽ bị hư, cần phải thay thế. Đó là một trong những lý do để tranh chép tồn tại. Vào dịp cuối năm, khi nhu cầu trang trí nhà cửa để đón Tết tăng, thị trường tranh chép trở nên sôi động. Thợ chép không kịp nghỉ tay mà vẫn không kịp có tranh giao cho khách.

Nghề chép tranh, không chỉ là một nghề kinh doanh thuần tuý. Ít nhiều nó cũng chuyển tải cái đẹp của nghệ thuật hội hoạ. Tranh chép, giúp người ta tiếp xúc với các trường phái, kỹ thuật hội hoạ khác nhau trên thế giới. Nhờ đó mà có thể học hỏi thêm về kỹ thuật vẽ, pha màu… Vô hình và thông qua đó, chúng đã giúp cho nền mỹ thuật của nước đó phát triển, hội nhập, hoà nhập với nền hội hoạ thế giới. “Nhiều hoạ sỹ trước khi thành danh đã mưu sinh bằng nghề này- anh Hoà tâm sự. Chính những ngày tháng mài bút, rèn luyện kỹ thuật trong nghề chép tranh đã giúp họ có một tay nghề vững vàng. Làm nghề này là một cách thức lấy ngắn nuôi dài để sáng tác, chứ làm nghệ thuật mà chỉ sao chép lại thì còn gì là nghệ thuật nữa…”.

CAO HỒNG

<Chuồn Chuồn Cụt Đuôi sưu tầm>

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s